1. Thực tế mâu thuẫn
Trong lịch sử nhân loại, vấn đề “có hay không có thế giới siêu hình (TGSH)” là một trong những sự kiện gây nhiều quan tâm nhất và cũng dễ xung đột nhất. Riêng trong Phật giáo, vấn đề này tuy không gây tranh luận gay gắt, nhưng trên thực tế vẫn còn tồn tại nhiều khác biệt đến độ mâu thuẫn. Trong khi một số người quả quyết rằng đạo Phật là một đạo “vô thần”, thế nhưng ở rất nhiều chùa vẫn còn đầy dẫy những nghi thức tế lễ, cúng bái, cầu siêu... thể hiện thế giới tâm linh một cách hiển nhiên chính thức, không thua kém bất kỳ một tôn giáo “hữu thần” nào khác.
Đứng trước thực trạng trên, một số Phật tử bị hoang mang phân vân không hiểu, một số khác lại phủ nhận tất cả mọi TGSH đến độ “vô chấp” cả bàn thờ Phật, bàn thờ tổ tiên; số còn lại thì tin tưởng một chiều mọi TGSH để rồi rơi vào mê tín. Do vậy, người học Phật chân chính muốn có được nhận định đúng đắn, trước hết, phải căn cứ vào những lời dạy đích thực của Đức Thế Tôn trong kinh tạng Nikaya nguyên thuỷ, đồng thời phải tự mình tư duy, thẩm sát kỹ lưỡng trước rồi mới đặt lòng tin vào đây, chứ không nên vội vã nghe theo bất cứ một giáo lý nào, và từ bất kỳ ai.
Nhưng trước khi đi sâu vào phân tích tìm hiểu vấn đề, cần phải nói rõ một điểm, theo lời Phật dạy “người nói Pháp không có tranh luận với bất cứ ai ở đời” (S.iii,113 = [Ve.7.94] *), bởi thế, bài viết này không nhằm mục đích đặt lại một vấn đề đã gây tranh cãi từ lâu đời để bắt đầu một cuộc tranh luận mới, trái lại chỉ muốn giới thiệu những nhận thức về vấn đề TGSH trong kinh tạng Nikaya mà thôi.
2. Nhận định từ kinh văn và từ thực tế khách quan
Căn cứ vào kinh tạng Nikaya có thể khẳng định ngay: trong kinh tạng Nikaya không những có thế giới siêu hình mà có tới bốn thế giới siêu hình. Thật vậy, một người đọc kỹ bài kinh “Pháp môn căn bản” sẽ phải thừa nhận điều này. Vì bài kinh này dài nên ở đây chỉ trích lược và trình bày những đoạn có liên quan đến vấn đề bàn luận nhằm làm rõ hơn nhận định nêu trên.
Trong kinh Pháp môn căn bản (số 1, Trung bộ1 = TB1,1 = [U.3]), Đức Phật đã dạy rõ:
“... Này các Tỷ-kheo, ở đây, có kẻ phàm phu ít nghe... Người ấy tưởng tri chư Thiên là chư Thiên... Vì sao vậy? Ta nói người ấy không liễu tri chư Thiên.
... Này các Tỷ-kheo, có Tỷ-kheo hữu học tâm chưa thành tựu... Vị ấy thắng tri chư Thiên là chư Thiên... Vì sao vậy? Ta nói vị ấy có thể liễu tri chư Thiên.
... Lại nữa, này các Tỷ-kheo, có Tỷ-kheo là bậc A-la-hán... Vị ấy thắng tri chư Thiên là chư Thiên. Vì sao vậy? Vì vị ấy không có tham dục... sân hận... si mê, nhờ tham dục... sân hận... si mê đã được đoạn trừ.
... Như Lai là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác... Như Lai thắng tri chư Thiên là chư Thiên. Vì sao vậy? Vì Như Lai biết rằng: "Dục hỷ là căn bản của đau khổ, từ hữu, sanh khởi lên, và già và chết đến với loài sinh vật". Do vậy, này các Tỷ-kheo, Ta nói vì Như Lai, với sự diệt trừ hoàn toàn các ái, sự ly tham, sự đoạn diệt, sự xả ly, sự từ bỏ hoàn toàn các ái, đã chơn chánh giác ngộ vô thượng chánh đẳng chánh giác” (Các trích dẫn từ Kinh theo bản dịch của HT Thích Minh Châu).
Như vậy, căn cứ vào những đoạn kinh trên cho thấy có bốn mức độ nhận thức về thế giới chư Thiên, bao gồm (tác giả có thay đổi từ để dễ phân biệt hơn):
1. Tưởng tri chư Thiên là chư Thiên của kẻ phàm phu
2. Tuệ tri chư Thiên là chư Thiên của hàng hữu học.
3. Thắng tri chư Thiên là chư Thiên của bậc A-la-hán.
4. Liễu tri chư Thiên là chư Thiên của Như Lai A-la-hán Chánh Đẳng Giác.
Chư Thiên là một bộ phận của thế giới siêu hình, chính vì thế, từ đây có thể suy rộng ra cũng có bốn mức độ nhận thức về TGSH, đó là:
1. Tưởng tri TGSH là TGSH
2. Tuệ tri TGSH là TGSH
3. Thắng tri TGSH là TGSH
4. Liễu tri TGSH là TGSH.
Trong thực tế cuộc sống, các TGSH thuộc mỗi tầng nhận thức đều khác nhau, và vì vậy trong kinh điển Nikaya cũng thể hiện đầy đủ cả bốn TGSH này. Chúng bao gồm: TGSH của tưởng tri, TGSH của tuệ tri, TGSH của thắng tri và TGSH của liễu tri. Nhưng dù các TGSH trong kinh tạng Nikaya được thể hiện theo mức độ nào chăng nữa thì cũng không vượt ngoài mục đích ý nghĩa trước sau như một của chánh pháp: “Chư Tỷ-kheo, xưa cũng như nay, Như Lai chỉ nói lên sự khổ và sự diệt khổ” (TB1, 22 = [Sb.4.35]).
Chính vì kinh tạng Nikaya thể hiện nhiều TGSH khác nhau như vậy, cho nên không phải bất kỳ TGSH nào cũng có thể hiểu được bằng tuệ tri của bậc hữu học, nhất là đối với những TGSH được Đức Phật thuyết giảng theo mức độ thắng tri và liễu tri. Trong đó TGSH được liễu tri của Như Lai và TGSH được thắng tri bởi các bậc A-la-hán thuộc về sự thực chứng, vượt ngoài tầm luận giải thông thường, do vậy thiết nghĩ không nên lạm bàn đến ở đây. Trong bài viết này, tác giả chỉ nói đến TGSH thuộc phạm vi của tưởng tri và của tuệ tri mà thôi.
3. TGSH của tưởng tri và của tuệ tri
Trong hai phạm vi này, người học Phật cần phân định rõ: tưởng tri là những tri kiến, những nhận thức do tưởng tượng hoặc do định tưởng mà có. TGSH của tưởng cũng như vậy, chúng được hình thành trên cơ sở con người không lý giải được các sự vật hiện tượng quanh mình nên đành phải tưởng tượng ra những đối tượng bên ngoài để khoả lấp. Vì dựa trên sự tưởng tượng do tự mình hoặc người khác đặt ra cho nên có đôi khi những tri kiến này ngẫu nhiên phù hợp với thực tại khách quan, thế nhưng phần lớn chúng đều không đúng.
Ví dụ khi thấy nước ồ ạt từ trên trời đổ xuống con người thời xưa không thể lý giải được tại sao, vì thế họ nghĩ ngay ra phải có một vị thần mưa quyền linh ở trên hư không nên mới làm nổi chuyện “vĩ đại” nhường ấy. Cũng vậy, trời đang yên lành bỗng dưng nổi lên một trận gió lốc hung hãn làm tốc nhà, cây đổ, cát bay, đá chạy, con người không hiểu vì sao thiên nhiên lại có một sức mạnh phi thường như vậy, và thế là họ bèn tưởng ngay ra một vị thần gió đầy uy lực.
Tương tự, các vị thần sấm, thần sét, thần bão, thần giông... lần lượt ra đời cũng theo cách thức này, và từ đây TGSH hình thành để giúp cho con người giải thích được tất cả các hiện tượng sự vật mà họ không sao hiểu nổi. Hơn thế nữa, đứng trước những hiện tượng siêu nhiên quá khủng khiếp như động đất, sóng thần, bão lụt... con người trở nên bất lực sợ hãi, và vì vậy TGSH trở thành một thế lực cho họ cầu xin, quy phục, nương dựa nhằm tìm kiếm sự an ổn.
Trong khi đó tuệ tri là những tri kiến, nhận thức do tư duy, quán sát, thực nghiệm, kiểm chứng từ thực tế mà có. Chính vì tuệ tri được hình thành trên cơ sở của trí tuệ thực tiễn, nên nó phản ánh thực tế các sự vật hiện tượng tự nhiên chính xác hơn (chỉ đúng hơn, chứ chưa phải hoàn toàn đầy đủ). Và vì tuệ tri phản ánh tự nhiên chính xác hơn, nên tuệ tri gần với chân lý khách quan hơn (chỉ gần hơn, chứ chưa phải là chân lý khách quan). Các tri thức khoa học nằm trong phạm trù của tuệ tri, khoa học tiến bộ đến đâu thì các nhà khoa học thức tri được thế giới khách quan đến đó.
Tuy vậy vì thế giới thực tại còn ẩn chứa rất nhiều điều mà khoa học chưa thể thấu suốt được, chưa thể khám phá hết được, do vậy các tri thức khoa học vẫn chưa phải là thực tế chân lý khách quan hoàn toàn đáng tin cậy. Lịch sử đã cho thấy có không ít những phát kiến khoa học một thời được ca ngợi tin tưởng, thế nhưng sau đó lại trở thành sai lầm trước những phát kiến chính xác hơn.
Chính vì cả hai tưởng tri và thức tri đều không khẳng định được ưu thế tuyệt đối của mình, cho nên TGSH đã, đang và sẽ còn là vấn đề gây tranh cãi muôn thuở giữa một bên chấp chặt vào TGSH thuần tuý và một bên chấp chặt vào thế giới vật chất hữu hình thuần tuý. Thế nhưng, tranh cãi về một vấn đề mà không một ai có thể nhìn thấy trực tiếp tận mắt hoặc chứng minh cụ thể cho người khác thấy trực tiếp tận mắt như thấy hai bàn tay của mình, e rằng điều này chỉ tốn công sức, thời gian và giấy mực.
Ngay từ hơn hai mươi lăm thế kỷ trước, Đức Thế Tôn đã nói rõ về điều này cho các cư sĩ:
“Này các Gia chủ, có một số Sa-môn, Bà-la-môn có luận thuyết như sau, có quan điểm như sau: "Tuyệt đối không thể có cõi vô sắc” (cõi vô sắc = cõi vô hình hay TGSH, PNGP). Lại có một số Sa-môn, Bà-la-môn nói lời mâu thuẫn, đối nghịch với các Sa-môn, Ba la môn ấy. Các vị này đã nói như sau: "Chắc chắn có cõi vô sắc”. Này các Gia chủ, các Ông nghĩ thế nào? Có phải những vị Sa-môn, Bà-la-môn này nói những lời mâu thuẫn, đối nghịch nhau?
-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
-- Ở đây, này các Gia chủ, một người có trí suy nghĩ như sau: “Những Sa-môn, Bà-la-môn nào có lập thuyết như sau, có quan niệm như sau: "Tuyệt đối không thể có cõi vô sắc”, ta không có thấy như vậy. Những Sa-môn, Bà-la-môn nào có lập thuyết như sau, có quan điểm như sau: "Tuyệt đối có cõi vô sắc”, ta không có biết như vậy. Và nếu ta không biết, không thấy mà chỉ chấp nhận một bên và tuyên bố: "Ðây là sự thật, ngoài ra đều là mê lầm”, thời như vậy không xứng đáng với ta.
Những Sa-môn, Bà-la-môn nào có lập thuyết như sau, có quan điểm như sau: "Tuyệt đối không thể có cõi vô sắc", nếu lời nói của những Sa-môn, Ba la môn ấy đúng sự thật, thời sự kiện này xảy ra: Ta chắc chắn sẽ tái sanh tại chỗ các chư Thiên có sắc, do ý sở thành. Còn nếu những Sa-môn, Bà-la-môn nào có lập thuyết như sau, có quan điểm như sau: "Tuyệt đối có cõi vô sắc”, nếu lời nói của những Sa-môn, Bà-la-môn ấy đúng sự thật, thời sự kiện này xảy ra: Ta chắc chắn sẽ tái sanh tại chỗ các chư Thiên vô sắc, do tưởng sở thành.
Do duyên với cái gì có sắc, chấp gậy, chấp kiếm, đấu tranh, tránh tranh, luận tranh, kháng tranh, ly gián ngữ, vọng ngữ đều được thấy. Nhưng sẽ không có những sự việc này trong cõi vô sắc”. Do suy tư như vậy, vị ấy thành tựu sự yểm ly, sự ly tham, sự diệt tận các sắc pháp” (Kinh Không gì chuyển hướng, TB 60 = [So.13.14]).
Thật vậy, người có trí là người biết gìn giữ giới hạnh, tu tập từ bi hỷ xả, bố thí giúp đỡ mọi người thì dù có hay không có TGSH họ vẫn tái sanh làm các Thiên Nhân. Chính Đức Thế Tôn đã dạy rõ trong Kinh Phật thuyết như vậy:
“- Này các Tỷ-kheo, được địa vị làm người được gọi là đi đến cõi lành của chư Thiên. Khi được địa vị làm người, được lòng tin trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng, này các Tỷ-kheo, đây được gọi là nhận được những gì khéo nhận được của chư Thiên. Khi lòng tin được nhập vào, được an trú thành gốc rễ, kiên trì, không bị làm tan nát bởi Sa-môn, Bà-la-môn, Thiên nhân, Ác ma, Phạm thiên hay bất cứ ai ở đời thì được gọi là khéo an trú của chư Thiên” (It. 76 = [Iti.83])
Biết rõ như vậy, người Phật tử không còn phí thì giờ tranh luận chuyện “có hay không có TGSH”, hoặc cũng không nên một chiều tin theo mọi TGSH, phủ nhận những cơ sở khoa học có giá trị để rồi trở thành mê tín, cuồng tín; hoặc cũng không nên một chiều chạy theo thế giới hữu hình thuần tuý, phủ nhận mọi TGSH để rồi dẫn đến “chấp gậy, chấp kiếm, đấu tranh, tránh tranh, luận tranh, kháng tranh, ly gián ngữ, vọng ngữ”.
Người học Phật phải luôn ghi nhớ rằng: thế giới này tồn tại một cách khách quan đến bốn TGSH của tưởng tri, của tuệ tri, của thắng tri và của liễu tri. Cho nên mỗi người đều có quyền và phải chịu trách nhiệm trước nhận thức của mình. Chính vì thế, nếu trong kinh điển Nikaya có nói đến TGSH thì người học Phật, theo mức độ của người đi tìm chân lý cứu khổ và dựa trên “Pháp môn căn bản”, có quyền và phải có trách nhiệm tự mình phân định rõ TGSH ấy thuộc “tưởng tri TGSH là TGSH” hay thuộc “tuệ tri TGSH là TGSH”.
Ví dụ nếu kinh điển Nikaya có nói đến thần mưa thì người học Phật có thể “tưởng tri thần mưa là thần mưa”, tức là có một ông thần mưa quyền linh thuộc tưởng. Nhưng nếu “tuệ tri thần mưa là thần mưa” thì phải hiểu đó là một ông thần trên trời mang hơi nước gặp lạnh cùng các yếu tố ngưng kết biến thành giọt nước và rơi xuống.
Nếu kinh Nikaya có nói đến thần gió, người học Phật có thể “tưởng tri thần gió là thần gió” với một ông thần có thể nổi gió bằng tưởng, còn theo “tuệ tri thần gió là thần gió” phải hiểu ông thần này sinh ra là do sự chênh lệch về áp suất không khí.
Nếu kinh Nikaya nói đến thần sét, người học Phật có thể “tưởng tri thần sét là thần sét” tức một vị thần mang một lưỡi tầm sét xẹt lửa trên trời, nhưng cũng có quyền “tuệ tri thần sét là thần sét” có nghĩa là ông thần này mang hai khối mây có điện tích trái dấu chạm nhau và cũng xẹt lửa.
Các ông thần khác trong kinh Nikaya cũng cần nhận thức như vậy, và hơn thế nữa, nhận thức này cần phải ghi nhớ là Pháp môn căn bản.
Đến đây một câu hỏi đặt ra: Khi đọc kinh điển Nikaya trường hợp nào người học Phật nên tưởng tri TGSH là TGSH, trường hợp nào cần phải tuệ tri TGSH là TGSH? Trả lời: Vấn đề này phụ thuộc vào nội dung, ý nghĩa, hoàn cảnh, đối tượng cụ thể của từng bài kinh; và trình độ nhận thức của mỗi người học Phật.
Một câu hỏi khác: Giữa TGSH của tưởng tri và TGSH (hoặc hữu hình) của tuệ tri, cái nào có giá trị hơn, đúng đắn hơn? Trả lời: Vấn đề này cũng phụ thuộc vào nội dung, đối tượng cụ thể của từng bài kinh, và vào trình độ nhận thức của mỗi người học Phật; vả lại khẳng định một chiều sẽ lại rơi vào tranh luận vô ích như vấn đề muôn thuở “có hay không có TGSH”.
Nếu một chiều chấp chặt vào thế giới vật chất hữu hình thuần tuý và cho rằng mọi TGSH của tưởng tri là giả dối, sai lầm, chẳng lẽ phải dẹp bỏ tất cả những câu chuyện cổ tích, truyền thuyết dân gian có giá trị đạo đức nhân bản được xây dựng trên nền tảng TGSH của tưởng tri hay sao? Ngược lại chấp chặt vào mọi TGSH thuần tuý để rồi cứ tiếp tục mê tín dị đoan, thực hành theo cả những nghi thức phi nhân quả, phi đạo đức, phản khoa học hay sao? Rõ ràng cả hai cực đoan này đều không thích đáng đối với người có trí.
Muốn lý giải xác đáng cho vấn đề này, mỗi người Phật tử phải thực hành theo lời dạy của Đức Thế Tôn trong bài kinh “Nên hành trì, không nên hành trì” (số 114, Trung Bộ 3). Theo bài kinh này cùng một sự việc, một vấn đề nhưng có trường hợp nên thực hành theo nhưng trường hợp khác không nên thực hành.
Cụ thể đối với tưởng chứng đắc và tri kiến do tư duy, Đức Phật dạy như sau: “Này các Tỷ-kheo, Ta nói tưởng đắc cũng có hai loại: "Nên hành trì, không nên hành trì; và đây là sự tương đối giữa tưởng đắc”. Kiến đắc, này các Tỷ-kheo, Ta nói cũng có hai loại: "Nên hành trì, không nên hành trì; và đây là sự tương đối giữa kiến đắc (ditthipatilabha)” [U.33.4]
Vận dụng lời dạy trên, mỗi người học Phật cần phân định rõ ràng:
- Tưởng tri cũng có hai loại: nên hành trì và không nên hành trì. Và vì vậy có những TGSH của tưởng tri nên hành trì, nên tin, nên theo; nhưng cũng có những TGSH của tưởng tri không nên hành trì, không nên tin, không nên theo. Đây là sự tương đối của TGSH thuộc tưởng.
- Tuệ tri cũng có hai loại: nên hành trì và không nên hành trì. Và vì vậy có những TGSH (hoặc hữu hình) của tuệ tri nên hành trì, nên tin, nên theo; nhưng cũng có những TGSH (hoặc hữu hình) của tuệ tri không nên hành trì, không nên tin, không nên theo. Đây là sự tương đối của tư duy siêu hình hoặc tư duy hữu hình.
Đến đây, một câu hỏi quan trọng khác đặt ra: những TGSH (hoặc hữu hình) nào nên hành trì, nên tin, nên theo? Và những TGSH (hoặc hữu hình) nào không nên hành trì, không nên tin, không nên theo?
Ngay từ hơn hai ngàn năm trăm năm trước, vấn đề này đã được tôn giả Xá-lợi-phất trả lời và đã được Đức Thế Tôn chấp nhận: “Một tưởng đắc nào, bạch Thế Tôn, khi hành trì các bất thiện pháp tăng trưởng, các thiện pháp thối giảm, tưởng đắc như vậy không nên hành trì. Và một tưởng đắc nào, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời các bất thiện pháp thối giảm, các thiện pháp tăng trưởng, tưởng đắc như vậy nên hành trì...
Một kiến đắc nào, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời các bất thiện pháp tăng trưởng, các thiện pháp thối giảm, kiến đắc như vậy không nên hành trì. Và một kiến đắc nào khi hành trì thời các bất thiện pháp thối giảm, các thiện pháp tăng trưởng, kiến đắc như vậy nên hành trì.” (Sđd = [U.33.10/11])
Vận dụng lời dạy trên, người học Phật cần rút ra kết luận như sau:
- Một TGSH (hoặc hữu hình) nào, khi hành trì khiến các bất thiện pháp tăng trưởng, các thiện pháp thối giảm, TGSH (hoặc hữu hình) như vậy không nên hành trì.
- Và một TGSH (hoặc hữu hình) nào, khi hành trì thời các bất thiện pháp thối giảm, các thiện pháp tăng trưởng, TGSH (hoặc hữu hình) như vậy nên hành trì.
Từ đây lại có thêm câu hỏi quan trọng khác nữa: những TGSH (hoặc hữu hình) nào khi hành trì khiến các bất thiện pháp tăng trưởng, các thiện pháp thối giảm nên từ bỏ? Và những TGSH (hoặc hữu hình) nào khi hành trì thời các bất thiện pháp thối giảm, các thiện pháp tăng trưởng để thực hành theo?
Trả lời: Những TGSH (hoặc hữu hình) nào không tuân theo quy luật nhân quả thì những TGSH (hoặc hữu hình) đó khi hành trì theo sẽ khiến các bất thiện pháp tăng trưởng, các thiện pháp thối giảm vì thế nên từ bỏ. Ngược lại những TGSH (hoặc hữu hình) nào tuân theo quy luật nhân quả thì TGSH (hoặc hữu hình) đó khi hành trì theo sẽ khiến các bất thiện pháp thối giảm, các thiện pháp tăng trưởng, vì thế cần phải thực hành theo. Vì sao như vậy?
Vì những TGSH (hoặc hữu hình) không tuân theo quy luật nhân quả - tức không thể hiện theo quy luật nhân bản một nhân làm ác, nói ác, nghĩ ác phải chịu quả báo dị thục khổ đau; đồng thời một nhân làm thiện, nói thiện, nghĩ thiện sẽ được quả dị thục an vui sung sướng, và điều này cũng có nghĩa chúng làm tăng trưởng tham-sân-si. Chính vì những TGSH (hoặc hữu hình) này không thể hiện quy luật nhân bản “gieo gió gặt bão” hoặc “ở hiền gặp lành” và làm tăng trưởng tham-sân-si, cho nên người hành trì theo có thể gây hại cho mình, cho người và cho xã hội; đồng thời cũng không có lợi cho mình, cho người, cho xã hội. Vì có hại cho mình, cho người, cho xã hội, và không có lợi cho mình, cho người và cho xã hội, làm ác pháp tăng trưởng, thiện pháp suy giảm cho nên những TGSH (hoặc hữu hình) này không nên thực hành, không nên tin, không nên theo.
Ngược lại những TGSH (hoặc hữu hình) nào tuân theo quy luật nhân quả tức thể hiện theo quy luật nhân bản một nhân làm ác, nói ác, nghĩ ác phải chịu hậu quả dị thục khổ đau, đồng thời một nhân làm thiện, nói thiện, nghĩ thiện sẽ được quả dị thục an vui sung sướng, và điều này có nghĩa chúng cũng giúp đoạn trừ tham-sân-si. Chính vì những TGSH (hoặc hữu hình) này thể hiện theo quy luật nhân bản nhân quả và giúp đoạn trừ tham-sân-si như vậy, cho nên người hành trì theo không gây hại cho mình, cho người và cho xã hội, và có lợi cho mình, cho người, cho xã hội. Vì không gây hại cho mình, cho người, cho xã hội, và có lợi cho mình, cho người, cho xã hội, làm thiện pháp tăng trưởng, ác pháp suy giảm vì thế những TGSH (hoặc hữu hình) này nên thực hành, nên tin, nên theo. Tất cả TGSH trong kinh điển Nikaya chánh gốc, dù hiểu theo tưởng tri hay tuệ tri, cũng đều tuân theo nguyên tắc này.
Không phân biệt rõ ràng sự khác biệt nêu trên sẽ dễ rơi vào một trong hai cực đoan có hại: một đàng chấp chặt tin theo mọi TGSH kể cả những TGSH không theo quy luật nhân quả nhân bản để rồi trở thành mê tín, cuồng tín, làm hại mình hại người; nhưng đàng khác một chiều dựa vào tư duy hữu hình thuần tuý dẫn đến phủ nhận tất cả TGSH của luật nhân quả nhân bản, coi thường nghiệp báo thiện ác hai đời, trước sau gì kiểu “kiến đắc” này cũng sẵn sàng gây ra tội ác như bất kỳ kẻ cuồng tín nào khác: "Ai vi phạm một pháp, Ai nói lời vọng ngữ, Ai bác bỏ đời sau, Không ác nào không làm." (PC 176)Không ai có thể phủ nhận những tiến bộ của khoa học đã mang lại biết bao những lợi ích cho con người, giúp nâng cao cuộc sống xã hội. Thế nhưng bên cạnh đó cũng có những thành tựu của khoa học khiến con người phải khổ đau nhiều hơn, chết chóc nhiều hơn, môi trường tàn phá khủng khiếp hơn (bom nguyên tử, vũ khí hoá học...). Đây là tính tương đối của khoa học.
TGSH cũng có sự tương đối hai chiều như vậy. Theo chiều thứ nhất, trong lịch sử nhân loại và của mỗi dân tộc đều có những câu chuyện cổ tích, truyền thuyết, thần thoại chứa đầy giá trị nhân bản, chúng thể hiện quy luật nhân quả một cách tuyệt vời, đây chính là những kho tàng về luân lý và đạo đức của loài người. Bởi lẽ những giá trị nhân bản nhân quả này đã, đang và sẽ mãi mãi giúp con người đứng vững trên nền tảng đạo lý của chân-thiện-mỹ. Do vậy, không có một thời đại có lý trí nào lại muốn phủ nhận những giá trị nhân quả nhân bản này, trừ khi muốn bị tha hoá và suy đồi.
Trong kho tàng văn hoá của Việt Nam và của thế giới, những câu chuyện cổ tích như Cô Bé Lọ Lem, Tấm Cám, Ăn Khế Trả Vàng, Thạch Sanh – Lý Thông... là những bài học có giá trị giáo dục đạo đức sâu sắc cho biết bao thế hệ trẻ và ngay cả đối với những người đã lớn. Mặc dù những người lớn đều hiểu rõ bà tiên trong “Cô Bé Lọ Lem”, bà Bụt trong “Tấm Cám”; con chim thần trong “Ăn khế trả vàng”, cung tên thần của Thạch Sanh đều thuộc TGSH không có thật; thế nhưng họ cũng hiểu rằng chính những hình tượng này đã giúp cho những người biết tin chúng, quý trọng chúng, nhớ đến chúng còn đứng bên lề của cái thiện. Chính vì thế, không một nhà khoa học chân chánh nào lại muốn nhân danh khoa học phủ nhận những TGSH nhân bản nhân quả trong các câu chuyện cổ tích này.
Tuy vậy, bên cạnh những TGSH có giá trị giáo dục đạo đức nhân bản còn có cả những TGSH vô lý, có hại, bất chấp quy luật nhân quả và đạo đức nhân bản đích thực. Những người tin theo những TGSH này có thể gây hại cho mình và cho người khác. Đã có không ít người chỉ vì quá tin vào thần thánh sẽ cho mình trúng số, nên sau khi cầu xin liền lao vào đánh đề để rồi phải bán nhà bán cửa, gia đình tan vỡ. Lại có nhiều người bị bệnh, không lo tìm hiểu nguyên nhân, cứ tin bừa mấy ông thầy lừa bịp, cuối cùng tiền mất tật vẫn mang. Thậm chí có những kẻ lợi dụng đức tin của người khác tung tin đồn thất thiệt, hoặc dụ dỗ gạt người, hoặc gây bất an cho xã hội. Những biểu hiện mê tín, cuồng tín vì những TGSH kiểu này có muôn hình vạn trạng, nhưng sự tác hại do chúng gây ra thì ở đâu cũng vậy.
Người học Phật cần nhận thức và phân biệt rõ hai loại TGSH này để cứu khổ cho mình, cho gia đình mình và cho những người khác.
4. Những giá trị thiêng liêng của TGSH trong kinh tạng Nikaya
Như đã nói ở trên, tất cả các TGSH được nói đến trong kinh tạng Nikaya chánh gốc đều tuân theo nguyên tắc giúp thiện pháp tăng trưởng, ác pháp suy giảm trên cơ sở tuân theo quy luật nhân quả nhân bản. Nếu người học Phật đọc được những câu chuyện thuộc TGSH mang danh Phật giáo nhưng không thể hiện được nguyên tắc và quy luật này, thì người học Phật phải từ bỏ ngay để tránh cả tin mê tín vào những câu chuyện phi pháp, phi luật do người đời sau thêm vào.
Để thấy rõ hơn ý nghĩa giúp diệt khổ của những TGSH trong kinh tạng Nikaya, người học Phật cần nhận thức thêm về những đặc điểm cũng như giá trị tuyệt vời của những TGSH này.
4.1 Vai trò chủ động của con người
Một trong những đặc trưng rõ nét nhất của TGSH thuộc kinh tạng Nikaya cần nhận thức rõ, đó là vai trò con người trong TGSH được thể hiện một cách chủ động hơn so với TGSH trong dân gian.
Nếu trong câu chuyện cổ tích “Ăn khế trả vàng”, người em nhờ hiền lành không tham lam nên được con chim thần trả ơn để rồi trở thành giầu có, còn trong kinh tạng Nikaya tất cả những người giàu có chân chánh đều nhờ vào hành nghiệp biết tạo phước bố thí, biết làm ăn lương thiện và biết tiết độ của chính bản thân họ, chứ không thụ động trông chờ vào nhân quả có tính chất may rủi của bất kỳ một thế lực thần thánh nào khác.
Điều này đã được chính Đức Thế Tôn thuyết dạy cho thôn trưởng Asibandhakaputta: “-- Này Thôn trưởng, Ta nhớ từ chín mươi mốt kiếp về trước, Ta không hề biết đã có làm hại một gia đình cho đến một bữa cơm nấu cúng dường. Các gia đình ấy đều rất giàu, tiền của nhiều, tài sản nhiều, vàng bạc nhiều, vật dụng nhiều, ngũ cốc nhiều. Tất cả tài sản ấy được thâu hoạch do bố thí, được thâu hoạch một cách chân thật, được thâu hoạch một cách tự chế.” (S.iv,322 = [Su.11.9])
Tương tự, trong Kinh Phật Thuyết Như Vậy, Đức Thế Tôn đã nói rõ hơn:
“Này các Tỷ-kheo, chớ có sợ hãi các công đức. Này các Tỷ-kheo, công đức là đồng nghĩa với an lạc, cái gì khả lạc, khả hỷ, khả ái, khả ý, tức là công đức. Này các Tỷ-kheo, Ta thắng tri thọ hưởng quả dị thục, khả lạc, khả hỷ, khả ái, khả ý trong một thời gian dài của các công đức đã làm trong một thời gian dài.
Sau khi tu tập từ tâm trong bảy năm, Ta đã không trở lui lại đời này trong bảy tăng kiếp và hoại kiếp. Trong thời kỳ kiếp tăng, Ta là chư Thiên Quang Âm. Trong thời kỳ kiếp giảm, Ta sanh trong lâu đài trống không ở Phạm Thiên (1). Tại đấy Ta là Phạm Thiên, Ðại Phạm Thiên bậc chinh phục, bậc không bị ai chinh phục, bậc nhìn thấy tất cả, bậc có quyền lực. Này các Tỷ-kheo, ba mươi sáu lần Ta đã là Thiên chủ Ðế Thích. Nhiều trăm lần, Ta đã làm vua, vị vua Chuyển Luân, trị vì đúng pháp, bậc Pháp vương, bậc chiến thắng bốn phương, bậc đã đạt được sự an ổn trong quốc độ, bậc đầy đủ bảy báu. Còn nói gì khi Ta là vị vua ở địa phương.
Này các Tỷ-kheo, Ta suy nghĩ như sau: “Quả này là do nghiệp nào Ta đã làm, là quả dị thục của nghiệp nào mà nay, Ta được đại thần lực như vậy, đại uy lực như vậy?”. Rồi này các Tỷ-kheo, Ta suy nghĩ như sau: “Ðây là quả ba nghiệp Ta đã làm, là quả dị thục của ba nghiệp, do vậy Ta nay đựơc đại thần lực như vậy, đại uy lực như vậy. Tức là bố thí, nhiếp phục, chế ngự” (It.19 = [Iti27])
Đây cũng chính là quy luật nhân quả có tính nhân bản giữa cho và nhận: “Ai cho vật khả ý, sẽ nhận được điều khả ý” (TC2, C5, tr. 382 = [I.5.44]), hoặc theo dân gian “Sởi lởi thì trời cởi cho”, “Bánh ít đi, bánh quy lại”.
Hãy thử hình dung, trong một đất nước, nếu tất cả mọi người giàu có đều ý thức được đạo lý nhân quả này và tích cực tu tập từ bi hỷ xả, bố thí từ mẫn, làm lành lánh ác, để kiếp này và kiếp sau họ tiếp tục được hưởng sự giàu có, thì đất nước đó còn lo gì người nghèo thiếu ăn, trẻ em thiếu mặc.
Nếu mọi người giàu có đều biết rõ họ chẳng cần phải đến cầu tài bói quẻ nơi ai, không tốn công cúng bái xin xỏ chỗ nào, không tốn tiền bạc đốt vàng mã lãng phí mà chỉ chăm làm bố thí từ thiện, giúp người độ tha; nhờ vậy bản thân họ vừa có được phước báu thực sự, lại được người trí tán thán, đồng thời những người khác cũng được lợi ích mà quốc gia cũng bớt đi gánh nặng phải lo cho dân nghèo.
Chính vì thế, trong kinh tạng Nikaya có rất nhiều bài kinh Đức Phật dạy về lòng từ bi và hạnh bố thí, trong đó pháp bố thí chính là pháp đầu tiên trong thứ tự thuyết pháp của Đức Thế Tôn dành cho người đã đặt lòng tin nơi Chánh Pháp. Trong Kinh Nikaya và Luật Patimokkha có thể dễ dàng tìm thấy rất nhiều đoạn kinh tương tự về “thuận thứ thuyết Pháp” của Đức Phật, như đoạn kinh dưới đây Ngài dạy cho tướng quân Sìha:
“Rồi Thế Tôn thuận thứ thuyết pháp cho tướng quân Sìha, tức là thuyết về bố thí, thuyết về giới, thuyết về các cõi Trời, trình bày sự nguy hiểm, sự hạ liệt, sự nhiễm ô của các dục, những lợi ích của xuất ly. Khi Thế Tôn biết tướng quân Sìha, tâm đã sẵn sàng, tâm đã nhu thuận, tâm không triền cái, tâm được phấn khởi, tâm được hoan hỷ, Ngài mới thuyết những pháp được chư Phật tán dương đề cao: "Khổ, Tập, Diệt, Ðạo”. Cũng như một tấm vải thuần bạch, các chấm đen được gột rửa, rất dễ thấm màu nhuộm. Cũng vậy, chính tại chỗ ngồi ấy, pháp nhãn xa trần ly cấu khởi lên trong tâm tướng quân Sìha: "Phàm pháp gì được tập khởi lên, tất cả pháp ấy đều bị tiêu diệt”.
Rồi tướng quân Sìha thấy pháp, chứng pháp, biết pháp, thể nhập vào pháp, nghi ngờ vượt qua, do dự trừ diệt, đạt được vô sở úy, không y cứ người khác đối với các pháp của bậc Ðạo sư.” (Kinh Tướng quân Sìha, TC 8 Pháp-a, II. Phẩm Lớn = [I.8.12])
Tướng quân Sìha đã là một vị đại thần nổi tiếng, hẳn nhiên phước báu về tài vật của ông rất sung mãn, ấy thế mà Đức Phật vẫn dạy ông về bố thí, vì bố thí không những giúp cho người thực hành theo duy trì được phước báu hiện có lẫn trong tương lai, mà còn giúp “trang nghiêm tâm, trang bị tâm” nhằm tiến tới thực hiện những pháp cao hơn, đồng thời giúp diệt trừ lòng xan tham và tăng trưởng lòng từ bi với người khác, đây là hai pháp quan trọng giúp đi tới giải thoát khổ đau.
- “Này các Tỷ-kheo, ai không thắng tri, không liễu tri tất cả, ở đây tâm không ly tham, từ bỏ, không thể diệt được khổ đau. Này các Tỷ-kheo, ai thắng tri, liễu tri tất cả, ở đây tâm ly tham, từ bỏ, có thể diệt được khổ đau.” (It.3 = [Iti.7])
- “Này các Tỷ-kheo, từ tâm giải thoát được thực hành, được tu tập, được làm cho sung mãn, được tác thành cỗ xe, được tác thành căn cứ địa, được tiếp tục an trú, được tích tập, được khéo khởi sự thời được chờ đợi là mười một lợi ích. Thế nào là mười một?Ngủ an lạc, thức an lạc, không ác mộng, được loài người ái mộ, được phi nhân ái mộ, chư Thiên bảo hộ; không bị lửa, thuốc độc, kiếm xúc chạm; tâm được định mau chóng, sắc mặt trong sáng, mệnh chung không hôn ám; nếu chưa thể nhập thượng pháp (A-la-hán quả); được sanh lên Phạm thiên giới” (Kinh Từ, số 16, TC4, C11 = [I.11.16])
Đứng về mặt xã hội, ý thức về một TGSH theo quy luật nhân quả một cách chủ động – từ bi và bố thí được quả thiện lành – góp phần không nhỏ trong việc duy trì một nền đạo đức nhân bản và sự an lạc cho một đất nước. Đây là kết quả tất nhiên khi mọi người từ vua tới dân đều muốn tích cực tu tập hạnh từ bi, bố thí giúp đỡ cho người khác và giữ gìn năm giới. Và đây cũng chính là giá trị “hữu hình” có thể thấy rõ của những TGSH thuộc chánh pháp.
4.2 Minh và Hạnh chiến thắng cả TGSH
Cũng trong ý nghĩa chủ động của con người, giữa TGSH dân gian và TGSH trong kinh tạng Nikaya còn có một điểm phân biệt căn bản khác nữa. Đó là con người trong TGSH của dân gian thường là nạn nhân của thế lực xấu ác, và nếu họ có chiến thắng thì cũng phải nhờ thế lực siêu hình khác.
Ví dụ cô Tấm trong câu chuyện cổ tích “Tấm Cám” tuy hiền lành và nhân hậu thật, thế nhưng cô cứ phải là nạn nhân của hai mẹ con bà dì ghẻ độc ác, nhiều lần cô chỉ còn biết “nhắm mắt xuôi tay” để được bà Tiên cứu giúp. Hoặc một Thạch Sanh trong chuyện “Thạch Sanh, Lý Thông” tuy có oai dũng hơn cô Tấm, chém được cả chằng tinh, thế nhưng chàng vẫn phải bao phen khốn đốn vì Lý Thông. Và cũng nhờ có chiếc búa thần, cung tên thần, chiếc đàn thần mà Thạch Sanh mới tai qua nạn khỏi. Thử hỏi, nếu không có những thần vật này thì sao? E rằng số phận của chàng cũng không hơn gì những người khác!
Ngược lại, vai trò con người trong TGSH của kinh tạng Nikaya được thể hiện hoàn toàn khác. Điển hình như trong các câu chuyện Tiền thân Đức Phật chính gốc, người đọc dễ dàng nhận thấy đức Bồ-tát không bao giờ là nạn nhân của các thế lực siêu hình một cách cả tin ngây thơ. Hơn thế nữa Ngài đều chiến thắng các thế lực siêu hình này, và chiến thắng không phải bằng một sức mạnh thần quyền nào khác mà bằng chính trí tuệ và đức hạnh của Ngài. Đây là điểm khác biệt quan trọng để người học Phật học hỏi, và dựa vào đây phân biệt giữa TGSH thật sự và TGSH giả tạo mang danh Phật giáo.
Ví dụ trong truyện Tiền thân Apannaka, số 1 [J.1], đức Bồ-tát là trưởng đoàn lữ hành đưa đoàn người băng qua sa mạc. Loài quỷ Dạ-xoa nơi đây đã giả dạng thành những người với quần áo ướt đẫm, bùn dính đầy chân, nói rằng phía trước là rừng cây đang có mưa, nước uống thừa thãi, và khuyên đoàn người nên đập hết các ghè nước dự trữ để đi cho nhanh.
Bồ-tát không thực hành theo những lời này, vì ngay từ đầu Ngài đã cảnh giác, biết rõ mình đang ở đâu, kẻ đối thoại đã có những biểu hiện gì đáng nghi ngờ, và sau đó ngài đã phân tích cho mọi người thấy một cách rất “khoa học”: những kẻ kia nói rằng phía trước có mưa nhưng gió mưa có thể thổi xa một dặm, đầu mây có thể thấy từ xa một dặm, ánh chớp có thể thấy xa từ khoảng bốn dặm, tiếng sấm có thể vang xa hai ba dặm, cả đoàn lữ hành đều ở trong phạm vi này, thế nhưng không một ai ghi nhận được các hiện tượng nêu trên, do vậy những kẻ kia chính là những người đã nói dối và muốn lường gạt đoàn lữ hành.
Nhờ có trí tuệ biết quán sát, suy tư, phân tích hợp lý như trên cho nên Bồ-tát đã không rơi vào âm mưu của kẻ xấu ác, đã cứu được bản thân mình và cả đoàn người.
Rõ ràng những nhận thức về dấu hiệu của mưa nhiều kiếp trước đã đúng, kiếp này cũng đúng đối với bất cứ nơi nào có mưa. Đây là thể hiện đặc tính chân lý chính xác bất di bất dịch, không sai chạy của chánh Pháp và những lời dạy thực sự của Đức Thế Tôn trong kinh điển nguyên thuỷ Nikaya.
Người học Phật với sự tuệ tri “Dạ-xoa là Dạ-xoa” hoàn toàn có quyền tin rằng Dạ-xoa trong câu chuyện trên là có thực 100%. Nó có thể nhập vào bất kỳ một kẻ tham lam nào để biến kẻ đó trở thành những tay sai gian ác đi lường gạt và hãm hại người tốt. Nếu mọi người hiểu như vậy, tin như vậy và có trí tuệ tư duy như vậy, thì thế gian đã bớt được biết bao những bi kịch do những Dạ-xoa giả dối gây ra. Nếu đã tuệ tri “Dạ-xoa là Dạ-xoa” có thực 100%, thì tuệ tri “chư Thiên là chư Thiên” cũng có thực 100%, và vì vậy TGSH của tuệ tri cũng có thật 100%.
Và vì TGSH của tuệ tri có thật, cho nên nó cũng phải tuân theo những quy luật của sự thật, của chân lý; đó là quy luật nhân quả và quy luật sanh diệt. Các chư Thiên, Phạm Thiên cho dù quyền năng đến đâu chăng nữa cũng phải tuân theo những quy luật thuộc về chân lý này. Do vậy, một khi họ đã sanh ra và hiện hữu trong bất cứ tầng trời nào, nhưng nếu họ không tiếp tục làm phước tạo thiện để duy trì phước báu, khi phước báu cũ hết, họ vẫn phải tái sanh luân hồi theo nghiệp của mình như các chúng sanh khác mà thôi.Bậc Thiên Nhân Sư đã dạy: “-- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh sau khi chết từ thân chư Thiên, được tái sanh giữa chư Thiên. Còn nhiều hơn là các chúng sanh sau khi chết từ thân chư Thiên, phải tái sanh trong địa ngục... phải tái sanh trong loài bàng sanh... phải tái sanh trong cõi ngạ quỷ...” (S.v,475 = [Ve.4.104]).
Số chư Thiên ít ỏi vẫn tái sanh tại thế giới chư Thiên là những vị biết tiếp tục tạo lập công đức và tu tập theo đúng con đường chánh đạo để đi tới giải thoát hoàn toàn. Chư Thiên, Phạm Thiên còn như thế, huống hồ con người. Các vua chúa, đại quan, tỷ phú cho đến mọi người bình thường hiểu được điều này cũng phải cố gắng tạo phước làm lành, tu tập từ bi hỷ xả, giữ giới đầy đủ để bồi đắp phước báu thiện lành cho chính bản thân mình.
Trong tạng Nikaya chánh gốc có rất nhiều những bài kinh, những lời dạy, những câu chuyện mang yếu tố siêu hình thực sự, thế nhưng mỗi bài kinh, mỗi lời dạy, mỗi câu chuyện lại là một bài học sống động, có ý nghĩa thiết thực và có giá trị hiện hữu ngay giữa thế giới hữu hình này. (2)
4.3 Phạm Thiên vẫn đang hiển hiện trước mắt mọi người
TGSH trong kinh tạng Nikaya được mô tả một cách rất sinh động và hiển hiện như chính cuộc sống thực tại này. Hơn thế nữa, nó còn thể hiện đậm nét tính đạo đức nhân bản và có giá trị cứu khổ cụ thể cho chính cái thế giới hữu hình mà con người đang sống. Theo tín ngưỡng của một số dân tộc, vị Phạm Thiên được tôn thờ như một vị thần chủ có quyền năng ảnh hưởng với cả thế giới hữu hình này, có thể tạo tác ra cả con người. Chính vì thế, Phạm Thiên hay đấng Tạo Hoá được những người tin theo vinh danh, kính ngưỡng, cầu xin.
Người Phật tử cũng có Phạm Thiên của mình và họ cũng phải vinh danh, kính ngưỡng, cúng dường cầu phước nơi vị Phạm Thiên này. Bởi lẽ vị thần chủ này cũng có quyền năng sáng tạo ra con người, không những thế ngài còn có công trực tiếp phù hộ độ trì, nuôi dưỡng, chỉ dạy giúp đỡ cho con người thành người. Vị Phạm thiên ấy tồn tại thực sự ngay giữa cõi đời, mọi người đều có thể nhìn thấy được, nói chuyện được. Vị Phạm Thiên ấy là ai? ở đâu?
Kinh Nikaya đã chỉ rõ: “Phạm Thiên, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với mẹ cha; các bậc Ðạo sư thời xưa, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với mẹ cha; chư Thiên thuở xưa, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với mẹ cha; đáng được cung kính cúng dường, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với mẹ cha. Vì cớ sao? Này các Tỷ-kheo, vì mẹ cha giúp đỡ rất nhiều cho các con, nuôi dưỡng chúng lớn và giới thiệu chúng vào đời này” (Kinh “Ngang Bằng Với Phạm Thiên”, số 31, Tăng Chi tập 1, Chương 3 (TC1, C3) = [I.3.22])
Chính vì thế, đối với người Phật tử, ơn kính cha mẹ là một trọng ân luôn phải ghi nhớ.
Một người con bất hiếu quay lưng với hai vị đại Phạm thiên trong nhà rồi chạy đi cầu xin những vị thần linh nơi khác, nếu vị thần linh nơi ấy có chứng dám thì rõ ràng ông thần này đã không có mắt, không có trí tuệ và không có đạo đức. Thần linh không có mắt, không có trí tuệ và không có đạo đức là loại thần linh thấp kém nhất, vô tích sự nhất trong TGSH. Vì thế, cho dù lời cầu xin của người con bất hiếu có thành hiện thực chăng nữa, điều này không phải do vị thần linh cảm ứng mà là do “phước chủ, lộc thần” (phước từ nơi chủ, thần lại hưởng lộc).
“Chủ” ở đây là Thần chủ Cha và Thần chủ Mẹ, hai vị Phạm thiên này có lòng yêu thương vô bờ bến đối với các con, cho nên dù con cái có bất hiếu nhưng vẫn thương yêu, phù hộ cho chúng. Mình yêu thương con cái mình như thế nào, cha mẹ cũng yêu thương mình như vậy, chỉ có sự biểu hiện hoặc cách thức dạy dỗ khác nhau mà thôi. Hùm dữ còn biết thương con, chim mẹ còn dám nhịn ăn nuôi con, chẳng lẽ cha mẹ lại không? Nếu có khác chăng, thì chỉ do con người đã không còn nhớ đến truyền thống đạo lý:
“Công cha như núi Thái Sơn.
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
Một lòng thờ mẹ kính cha.
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”.
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
Một lòng thờ mẹ kính cha.
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”.
“Đạo con” ở đây có nghĩa là đạo đức của người con và cũng là đạo lý của Con Người. Bởi, chỉ có Con Người mới có đạo đức biết nhớ ơn và báo hiếu cho cha mẹ, vì khi Thượng đế tạo tác ra vạn loài chúng sanh, Ngài chỉ ban đặc ân này cho loài Người chứ không ban cho bất kỳ một con thú nào khác.
Những người con tôn thờ Thượng đế cũng phải thọ lãnh và thực hành đặc ân này để không phụ lòng Ngài và đồng thời cũng không tự đồng hoá mình với các sinh vật khác. Một vị Thiên chủ không hành xử theo quy luật nhân quả và không biết chỉ dạy cho con người đạo lý căn bản biết ơn kính mẹ cha, vị Thiên chủ ấy thực ra cũng chỉ là vị Phạm thiên do tưởng tạo thành mà thôi.
Người Phật tử muốn được “phước như Đông hải, thọ tỷ Nam sơn” (phước như biển cả, thọ như núi cao) phải biết vâng lời Phật, phải siêng năng cung kính cúng dường cho Phạm thiên Cha, Phạm thiên Mẹ. Một người con có hiếu nhưng chưa gặp may, thời càng phải cung kính cúng dường cha mẹ nhiều hơn nữa để phước lành sớm tròn đủ, nhờ vậy mới trổ quả được. Đây là đức tin của một người con biết hiếu nghĩa, và cũng là đạo đức của một người có chánh trí.
Ngược lại, những ai dù không tin có Thượng đế nhưng họ vẫn phải biết nhớ ơn và cúng dường cho hai vị Phạm Thiên trong nhà, nếu không, chính họ rồi sẽ là nạn nhân của sự bất hiếu. Mình không biết hiếu kính cha mẹ, làm sao con cái mình biết hiếu kính mình đây? Người xưa nói rất tinh tế: “Sóng trước đổ đâu, sóng sau đổ đó”. Mình là sóng gió đập vào cha mẹ, con cái mình bắt chước theo đấy, làm sóng gió đập vào mình chứ vào ai.
Những người con lớn lên lại trở thành cha mẹ, nếu họ vẫn một lòng cung kính cúng dường cho hai vị Thần chủ của mình, thì chính họ là những tấm gương sáng cho con cái noi theo, là bậc Đạo sư đáng quý cho con cái của mình. Với phẩm hạnh ấy, họ sẽ trở thành Phạm Thiên có quyền năng duy trì truyền thống tạo dựng nên những thế hệ NGƯỜI thực sự cho thế gian này.
Chính vì thế, những gia đình nào trong đó con cái biết ơn kính cha mẹ ở trong nhà là những gia đình Phạm Thiên, đáng cho mọi người quy ngưỡng.
“- Những gia đình nào, này các Tỷ-kheo, trong ấy, các con cái kính lễ mẹ cha ở trong nhà, những gia đình ấy được chấp nhận ngang bằng với Phạm Thiên. Những gia đình nào, này các Tỷ-kheo, trong ấy, các con cái kính lễ mẹ cha ở trong nhà, những gia đình ấy được chấp nhận như các Ðạo sư thời xưa. Những gia đình nào, này các Tỷ-kheo, trong ấy, các con cái kính lễ mẹ cha ở trong nhà, những gia đình ấy được chấp nhận là đáng được cúng dường.” (Kinh “Ngang Bằng Với Phạm Thiên”, TC1, C3 = [I.3.22])
“Con cái kính lễ mẹ cha ở trong nhà” có nghĩa là con cái thực hiện bổn phận của mình vì lòng hiếu thảo đền ơn cha mẹ ngay từ trong nhà, chứ không phải chỉ vì muốn khoe khoang hay đóng kịch với người ngoài đường.
Công ơn cha mẹ như trời biển, vì thế ngay cho dù những người con có báo hiếu chân thành cả đời cũng không thể trả hết ơn được. Tuy vậy, những người con có đạo đức, muốn biết cách báo hiếu trả ơn đầy đủ cho hai vị Phạm thiên trong nhà, hãy ghi nhớ kỹ và thực hành theo những lời dạy chí tình chí nghĩa sau đây của Bậc Đạo Sư:
“Có hai hạng người, này các Tỷ-kheo, Ta nói không thể trả ơn được. Thế nào là hai? Mẹ và Cha.
Nếu một bên vai cõng mẹ, này các Tỷ-kheo, nếu một bên vai cõng cha, làm vậy suốt trăm năm, cho đến trăm tuổi; nếu đấm bóp, thoa xức, tắm rửa, xoa gội, và dầu tại đấy, mẹ cha có vãi tiểu tiện đại tiện, như vậy, này các Tỷ-kheo, cũng chưa làm đủ hay trả ơn đủ mẹ và cha.
Hơn nữa, này các Tỷ-kheo, nếu có an trí cha mẹ vào quốc độ với tối thượng uy lực, trên quả đất lớn với bảy báu này, như vậy, này các Tỷ-kheo, cũng chưa làm đủ hay trả ơn đủ mẹ và cha. Vì cớ sao?
Vì rằng, này các Tỷ-kheo, cha mẹ đã làm nhiều cho con cái, nuôi nấng, nuôi dưỡng chúng lớn, giới thiệu chúng vào đời này.
Nhưng này các Tỷ-kheo, ai đối với cha mẹ không có lòng tin, khuyến khích, hướng dẫn an trú các vị ấy vào lòng tin; đối với mẹ cha theo ác giới, khuyến khích, hướng dẫn, an trú các vị ấy vào thiện giới; đối với mẹ cha xan tham, khuyến khích, hướng dẫn, an trú các vị ấy vào bố thí; đối với mẹ cha theo ác trí tuệ, khuyến khích, hướng dẫn, an trú các vị ấy vào trí tuệ. Cho đến như vậy, này các Tỷ-kheo, là làm đủ và trả ơn đủ mẹ và cha” (TC1, C2 = [I.1.2.2])
Chỉ có an trú cha mẹ vào chánh tín, thiện giới, bố thí và trí tuệ mới giúp cha mẹ có được cuộc sống an vui lành thiện ngay trong hiện tại, từ đó từng bước tiến tu tới giải thoát vĩnh hằng; nhờ vậy mới có thể đền đáp được công ơn trời biển của cha mẹ.
Như vậy theo ý nghĩa trên, Phạm Thiên là đồng nghĩa với mẹ cha, chư Thiên là đồng nghĩa với những người hiền trí, có giới hạnh, thiện lành, biết báo hiếu cho cha mẹ và biết tu tập Từ Bi Hỷ Xả, luôn giúp đỡ cho những người khác. Và như vậy thế giới “chư Thiên có sắc do ý sở thành” nào phải ở đâu xa, các vị ấy vẫn đang hiện hữu giữa thế gian này.
Như vậy theo ý nghĩa trên, Phạm Thiên là đồng nghĩa với mẹ cha, chư Thiên là đồng nghĩa với những người hiền trí, có giới hạnh, thiện lành, biết báo hiếu cho cha mẹ và biết tu tập Từ Bi Hỷ Xả, luôn giúp đỡ cho những người khác. Và như vậy thế giới “chư Thiên có sắc do ý sở thành” nào phải ở đâu xa, các vị ấy vẫn đang hiện hữu giữa thế gian này.
Chẳng thế, không ít lần Đức Thế Tôn đã dạy cho các cư sĩ thế này: “- Này các Gia chủ, có bốn loại sống chung này. Thế nào là bốn? Ðê tiện nam sống chung với đê tiện nữ. Ðê tiện nam sống chung với Thiên nữ. Thiên nam sống chung với đê tiện nữ. Thiên nam sống chung với Thiên nữ” (Kinh “Sống chung”, TC1, C4 = [I.4.53]). Trong bài kinh này Đức Phật đã giải thích rất rõ thế nào là Thiên nam, Thiên nữ. Các cư sĩ hãy thọ trì và thực hành đúng với lời Phật dạy, hãy giữ gìn giới hạnh thanh tịnh, tích cực thực hành Từ Bi Hỷ Xả, hiếu kính với cha mẹ và giúp đỡ cho mọi người để hoá thân thành các Thiên thần nam, Thiên thần nữ ngay trong cõi Ta Bà này.
4.3 Chư Thiên và A-tu-la: những cuộc chiến tranh siêu hình khốc liệt
Người học Phật đọc kỹ kinh tạng Nikaya sẽ dễ dàng tìm thấy khá nhiều các bài kinh mô tả những cuộc chiến tranh qua lại giữa chư Thiên và A-tu-la (Asurà). Nếu người đọc một chiều phủ nhận mọi TGSH, hoặc chỉ dừng lại ở mức độ “tưởng tri chư Thiên là chư Thiên, A-tu-la là A-tu-la”; thì không thể lĩnh hội hết được những ý nghĩa vi diệu từ những câu chuyện này. Người học Phật cần phải tuệ tri suy tư kỹ lưỡng những bài kinh tường thuật những cuộc chiến đấu siêu hình, nhờ vậy mới có thể nhận thức được mỗi bài kinh là một bài học có giá trị thiết thực giúp cho sự tu tập thoát khổ của mình.
Hãy lấy bài kinh “Chư Thiên”, số 39, Tăng Chi 4, Chương 9 làm ví dụ. Trong phần đầu của bài kinh này đã mô tả ba lần A-tu-la chiến thắng chư Thiên. Riêng trong lần cuối cùng có sự khác biệt:
“... Lần thứ ba, này các Tỷ-kheo, chư Thiên đánh với các Asurà. Lần thứ ba, này các Tỷ-kheo, các Asurà lại thắng trận, chư Thiên bại trận. Này các Tỷ-kheo, chư Thiên thất trận sợ hãi bỏ chạy vào thành phố chư Thiên.
Và này các Tỷ-kheo, chư Thiên đi vào trong thành của chư Thiên suy nghĩ như sau: "Nay ta hãy đi đến chỗ ẩn náu của những người sợ hãi. Hiện nay chúng ta sống với chúng ta, không có gì phải làm với các Asurà”.
Này các Tỷ-kheo, các Asurà cũng suy nghĩ như sau: "Nay chư Thiên đã đi đến chỗ ẩn náu của những người sợ hãi. Hiện nay chúng sống với chúng nó, không có gì phải làm với chúng ta.” [I.9.39.6]
Người học Phật khi đã biết tuệ tri một thân làm thiện cũng là một thân chư Thiên, thì cũng phải tuệ tri một lời nói thiện là lời chư Thiên, một ý nghĩ thiện là ý niệm chư Thiên. Cũng vậy, khi đã tuệ tri một thân làm điều bất thiện như một thân Dạ-xoa, hoặc A-tu-la; thì một lời nói bất thiện cũng là lời của Dạ-xoa, lời của A-tu-la; và một ý nghĩ bất thiện cũng là ý niệm Dạ-xoa, hoặc ý niệm A-tu-la. Nhờ biết tuệ tri như vậy người học Phật mới có thể thấu hiểu được ý nghĩa bài kinh trên.
Thật vậy, muốn chiến thắng chính mình và giải thoát khổ đau, con người phải tiến tới từng bước hoàn thiện bản thân mình. Trong quá trình đó, việc thanh lọc tâm để đạt được tâm thanh tịnh cũng là quá trình của biết bao cuộc chiến tranh tâm ý giữa một bên là niệm thiện và một bên là niệm bất thiện. Niệm thiện có hùng mạnh mới chiến thắng được niệm ác-bất thiện, mới giúp tâm thanh tịnh được. Ngược lại để cho niệm ác-bất thiện lớn mạnh tiêu diệt niệm thiện, thì cuộc đời tu hành xem như thất bại.
Muốn niệm thiện vững mạnh đủ sức chiến thắng niệm ác-bất thiện, người tu sĩ phải biết dựa vào những thành trì kiên cố của mình. Hai trong số những thành trì vững vàng đó chính là pháp Tàm (xấu hổ) và pháp Quý (sợ hãi):
- “Ví như, này các Tỷ-kheo, trong thành trì biên địa của vua có một con đường thông hào, vừa sâu và rộng để bảo vệ những người ở trong thành và để chống cự những người bên ngoài.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử có lòng xấu hổ. Vị ấy xấu hổ vì thân làm ác, vì miệng nói ác, vì ý nghĩ ác. Vị ấy xấu hổ vì bị rơi vào các ác, bất thiện pháp. Lấy xấu hổ làm con đường thông hào, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử từ bỏ bất thiện, tu tập thiện, từ bỏ có tội, tu tập không tội, gìn giữ tự thân thanh tịnh. Với diệu pháp thứ hai này, vị ấy được thành tựu.
Ví như, này các Tỷ-kheo, trong thành trì biên địa của vua có một con đường đi vòng chung quanh, vừa cao vừa rộng để bảo vệ những người ở trong thành và để chống cự những người bên ngoài.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử có lòng sợ hãi, sợ hãi vì thân làm ác, vì miệng nói ác, vì ý nghĩ ác. Vị ấy sợ hãi vì bị rơi vào các ác, bất thiện pháp. Lấy sợ hãi làm con đường đi vòng xung quanh, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử từ bỏ bất thiện, tu tập thiện, từ bỏ có tội, tu tập không tội, gìn giữ tự thân thanh tịnh. Với diệu pháp thứ ba này, vị ấy được thành tựu” (Bài kinh Thành Trì, số 63, TC3, C7, tr.426-36 = [I.7.63.17-18]
- “Do vậy, này các Tỷ-kheo, cần phải học tập như sau: "Chúng ta phải sợ hãi đối với tội có kết quả hiện tại. Chúng ta phải sợ hãi đối với tội có kết quả trong đời sau. Chúng ta phải tránh xa các tội. Chúng ta phải thấy rõ sự nguy hiểm của các tội”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập. Ðối với ai tránh xa các tội, này các Tỷ-kheo, đối với ai thấy rõ sự nguy hiểm của các tội, thời được chờ đợi rằng người ấy sẽ được giải thoát tất cả tội.” (TC1, C2, phẩm Hình Phạt, tr.96 = [I.2.1])
Nếu một người tu sĩ không ở trong thành trì của Tàm Quý, không biết xấu hổ và sợ hãi trước những điều đáng xấu hổ và sợ hãi, để rồi rời bỏ thành trì của giới hạnh, của sự hộ trì các căn, của chánh niệm tỉnh giác, thì đương nhiên các niệm A-tu-la bất thiện trong tâm của vị ấy sẽ lớn mạnh và chiến thắng những niệm thiện chư Thiên. Sớm muộn gì vị tu sĩ này cũng sẽ trở thành buông lung phóng dật và đi đến thối đọa, đây là điều hết sức dễ hiểu.
Ngược lại, vị Tỳ-khưu phải biết sợ hãi trước những điều đáng phải sợ hãi, họ phải sợ hãi những thân-miệng-ý độc ác, phải sợ hãi sự vô minh ngu dốt, phải sợ hãi nhân quả bất thiện, phải sợ hãi nghiệp báo luân hồi; phải biết dựa vào bức thành trì của Tàm Quý cùng với Pháp và Luật của Thế Tôn, nhờ vậy vị ấy mới có thể làm lớn mạnh các niệm thiện chư Thiên để chiến thắng các niệm ác A-tu-la trong tâm mình.
Thậm chí cho dù con người có là “cây sậy biết tư tưởng” như Pascal mặc cảm, hoặc yếu đuối như con chim cút chăng nữa, nhưng nếu biết vững trú trong đúng phương xứ của mình, họ vẫn có thể khiến cho con chim ưng ác ma phải bể ngực thất bại (Xem thêm bài kinh Con chim ưng (S.v,146 = [Ve.2.6]).
Rõ ràng, với những ai muốn tìm kiếm sự minh triết để đi tới giải thoát, họ không thể xem thường những cuộc chiến tranh siêu hình như thế này. Thậm chí, không tuệ tri được những diệu-pháp-siêu-hình như trên, họ còn có thể phát cuồng khi suy tư về những vấn đề phù phiếm của thế gian, hoặc khi nghe người khác nói về diệu pháp nhưng họ không sao hiểu nổi, không sao tin nổi, giống như điều mà bài kinh “Tư duy” đã mô tả:
“Một thời, Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá) tại Trúc Lâm, chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
Tại đấy, Thế Tôn bảo các Tỷ-kheo:
-- Thuở trước, này các Tỷ-kheo, một người đi ra khỏi Vương Xá, nghĩ rằng: "Ta sẽ suy tư về thế giới”, và người ấy đi đến hồ sen Sumàgadhà; sau khi đến, ngồi trên bờ hồ Sumàgadhà và suy tư về thế giới.
Này các Tỷ-kheo, người ấy trên bờ hồ Sumàgadhà thấy một đoàn quân với bốn loại binh chủng (voi, ngựa, xe, bộ binh) đi vào trong một củ sen; thấy vậy, người ấy nghĩ: "Có lẽ ta phát cuồng! Có lẽ ta điên loạn! Nay ta thấy một điều không thể có ở đời".
... Này các Tỷ-kheo, điều mà người ấy đã thấy là có thật, không phải không thật. Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, chư Thiên và loài Asura (A-tu-la) giàn trận để khai chiến. Và này các Tỷ-kheo, trong trận chiến ấy, chư Thiên thắng trận, các Asura bại trận. Các Asura bại trận, này các Tỷ-kheo, hoảng hốt đi vào thành Asura ngang qua củ sen vì quá sợ hãi chư Thiên.” (S.v,446 = [Ve.4.41])
Những ai đã quay lưng với kinh điển Nikaya, hoặc phủ nhận mọi TGSH, hoặc chỉ hiểu kinh tạng Nikaya bằng tưởng tri phàm tục của mình, thời làm sao có thể lãnh hội được điều có thật 100% này, làm sao có duyên may thực chứng được sự thật “siêu hình” 100% này. Và cho dù họ có nghe được người khác thấy chăng nữa, họ cũng không dám tin. Vì sao?
Vì cứ mang một đống vọng tưởng “tâm viên, ý mã” rối bời bất trị, thời làm sao họ hiểu được do đâu niệm chư Thiên lại thắng được niệm ác A-tu-la? Làm sao họ hiểu được thế nào là phải “tuệ tri củ sen là củ sen”, và vì sao chỉ có “pháp củ sen” này mới có thể khiến cả lũ A-tu-la biến mất, và còn “nuốt” được cả một đoàn quân với bốn loại binh chủng của voi, ngựa, xe và bộ binh?
Không thọ trì đúng chánh Kinh chánh Pháp, hoặc phủ nhận mọi TGSH, hoặc không tuệ tri được “TGSH là TGSH”, thời làm sao biết được có lúc “củ sen” lại biến thành cả một toà cung điện Vejayanta Tối thắng với những cấu trúc hết sức kỳ diệu và cũng hết sức cụ thể, ngay cho dù nó đã bị nhận vơ bởi một ông Thiên chủ Sakka ba hoa:
“Này Thiện hữu Moggallana, trong trận chiến này, chư Thiên thắng, chúng Asura bại. Này thiện hữu Moggallana, sau khi thắng trận chiến ấy và nhân dịp thắng trận, chúng tôi, sau khi trở về, cho xây dựng một lâu đài tên là Vejayanta (Tối Thắng Ðiện).
Này Thiện hữu Moggallana, lâu đài Vejayanta có đến một trăm vọng tháp, trong mỗi vọng tháp có bảy ngôi nhà có hình tam giác, trong mỗi nhà tam giác có bảy tiên nữ, và mỗi tiên nữ có đến bảy thị nữ. Này thiện hữu Moggallana, Thiện hữu có muốn xem những điều khả ái của lâu đài Vejayanta không?” (TB1, số 37 = [Sd.1.5])
Những ai mang danh Phật tử nhưng không coi trọng kinh Nikaya hoặc phủ nhận mọi TGSH có muốn thấy những điều khả ái của lâu đài Vejayanta không? Nếu muốn, họ hãy thanh tịnh giới hạnh, hãy từ bỏ những nhận thức hạn hẹp nhưng đầy kiêu mạn của mình để đọc kỹ lại bài kinh này và suy ngẫm tự hỏi xem vì sao chỉ khi chư Thiên chiến thắng được các A-tu-la, chư Thiên mới có thể xây dựng và thể nhập được vào toà Tối Thắng Điện – Vejayanta? Con số một trăm vọng tháp tượng trưng cho điều gì? Vì sao mỗi vọng tháp lại có bảy ngôi nhà? Tại sao mỗi ngôi nhà lại có hình tam giác mà không là tứ giác, bát giác? Tại sao mỗi ngôi nhà tam giác chỉ có bảy tiên nữ và tại sao mỗi tiên nữ chỉ có bảy thị nữ mà không là bảy mươi, bảy trăm, vô lượng tiên nữ, thị nữ như các kinh văn ngụy tạo thường hay phóng đại một cách vô nghĩa?
Hơn thế nữa, họ còn phải học tập sự cảnh giác của ngài Mục Kiền Liên trước những kẻ học lóm Phật pháp mà kinh Nikaya gọi đích danh là những “kẻ ăn cắp pháp”. Những “ông thần” này học lóm Chánh pháp chỉ với mục đích kiếm danh, kiếm lợi; chính vì thế họ cũng có thể nói rất trôi chảy những danh từ của Phật giáo, thế nhưng họ lại “sống phóng dật một cách quá đáng”.
Hẳn nhiên Chánh pháp không bao giờ tồn tại thực sự nơi những kẻ phá giới bẻ luật như thế này. Nếu ngài Mục Kiền Liên chỉ xác tín lời Phật khi đã trở về hỏi chính Đức Phật, thời những người con Phật cũng phải biết trở về với những lời dạy đích thực của Đức Thế Tôn trong kinh tạng Nikaya cấp I. Không tuân thủ theo nguyên tắc này, trước sau gì những người học Phật cũng sẽ trở thành tín đồ của những ông “thần bịp”.
Người học Phật chỉ cần tuệ tri được những điều này thôi, hẳn cũng phải giật mình thán phục trước những “bí pháp siêu hình” trong kinh tạng Nikaya. Và họ cũng phải giật mình sợ hãi khi hiểu ra rằng: những hệ luỵ từ những cuộc chiến tranh siêu hình khốc liệt nào phải chỉ có ở trên trời!
Chính vì vậy, không thanh tịnh giới hạnh, không thọ trì đúng chánh Kinh, chánh Pháp thì cả một đời “tâm viên, ý mã” vẫn cứ hoàn “tâm viên, ý mã”; suốt cuộc đời thực hành thiền định nhưng tham-sân-si vẫn cứ hoàn tham-sân-si. Nếu không thì cũng chỉ tinh tấn được một thời gian đầu, để rồi sau đó sớm đầu hàng A-tu-la, chấp nhận “Nhất niên Phật tại tiền. Nhị niên Phật thăng thiên. Tam niên bất kiến Phật”.
Nguy hiểm hơn, trong thực tế, không phải là đã không có những người vì tin theo tà kinh, thực hành theo tà pháp nên đã phát cuồng thực sự, vô tư tung vãi biết bao những hành vi ngược ngạo cùng những lời phán truyền nửa mê nửa tỉnh của mình. Thế nhưng, khốn khổ thay, lại có không ít người tin rằng chúng mới thực sự là những giá trị “cao siêu mầu nhiệm” (!?)
Cuộc chiến tranh siêu hình khốc liệt giữa chư Thiên và A-tu-la vẫn còn đang tiếp diễn khôn cùng, và vì vậy không thể lường hết được cái giá phải trả cho sự quay lưng với Chánh Pháp.
4.4 Thiên đàng và địa ngục: hai ngã đường tự chọn
Trong bài kinh Sangàrava khi thanh niên Bà-la-môn Sangàrava hỏi Đức Thế Tôn về chư Thiên, Ngài đã trả lời một cách xác quyết:
“… Khi nghe nói vậy, thanh niên Bà-la-môn Sangarava bạch Thế Tôn:
-- Thật sự, sự tinh cần của tôn giả Gotama là trung kiên (atthita). Thật sự, sự tinh cần của tôn giả Gotama là sự tinh cần của các bậc Chân nhân (Sappurisa), một bậc như là A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Thưa Tôn giả Gotama, có các chư Thiên không?
-- Này Bharadvaja, Ta được biết một cách chắc chắn có chư Thiên.
-- Nhưng vì sao, thưa Tôn giả Gotama, khi được hỏi có các chư Thiên không, lại nói: "Này Bharadvaja, Ta được biết một cách chắc chắn có chư Thiên”. Sự việc là như vậy, thưa Tôn giả Gotama, thì có phải là hư ngôn, vọng ngữ không?
-- Này Bharavaja, nếu khi được hỏi: "Có chư Thiên không?”; cần phải đáp: "Có chư Thiên”; nhưng lại đáp: "Chắc chắn Ta được biết có chư Thiên”. Như vậy, một người có trí đi đến kết luận không có gì nghi ngờ nữa, là có chư Thiên.
-- Nhưng vì sao Tôn giả Gotama không giải thích như vậy cho con từ khi bắt đầu? -- Này Bharadvaja, như vậy đã được lớn tiếng chấp nhận ở đời tức là có chư Thiên.” (kinh số 100, Trung Bộ 3 = [So.32])
Rõ ràng thanh niên Bà-la-môn Bharavaja đã không có trí nên mới nghi ngờ hỏi lại! Còn người học Phật căn cứ vào thực tế khách quan và nhận thức theo Pháp môn căn bản, hẳn cũng phải “đi đến kết luận không có gì nghi ngờ nữa, là có chư Thiên”, đồng thời cũng cần “lớn tiếng chấp nhận ở đời tức là có chư Thiên”. Có chư Thiên thì phải có thế giới chư Thiên. Có thế giới chư Thiên là có Thiên đàng.
Thật khó có thể quả quyết trong vũ trụ bao la với hàng ức tỉ ngôi sao kia chắc chắn không thể có một thế giới nào khác ngoài trái đất. Điều này càng khó khẳng định hơn với một vũ trụ mở rộng vô hạn, không biên giới. Còn nếu vũ trụ có biên giới, vậy ngoài biên giới ấy là gì? Ai dám chắc nó hoàn toàn trống rỗng? Chứng minh? (Vả lại đã là TGSH thì làm sao thấy được bằng kính viễn vọng?)
Những ai chấp chặt vào thế giới hữu hình, phủ nhận không có Thiên đàng, hẳn phải cân nhắc trước những câu hỏi hữu hình nêu trên. Và ngay cho dù họ không tin có Thiên đàng ở trên trời, thì ít nhất họ cũng phải thừa nhận rằng: ngay trên trái đất này có những nơi khung cảnh thật tuyệt vời, sang trọng tiện nghi bậc nhất, đến độ chỉ cần nhìn vào những tấm hình của chúng thôi nhiều người trong số họ đã phải thốt lên “Quả là thiên đàng hạ giới!” Thiên đàng hạ giới ấy không phải ai cũng đến được, không phải muốn là hưởng được, mà phải có những điều kiện nhất định.
Thật vậy, ngay cho dù những người đang được sống giữa cái thế giới đệ nhất ấy, nhưng nếu tâm của họ tràn ngập tham lam, sân hận, si mê thì ngay tức khắc Thiên đàng biến mất; thay vào đó là một cõi tục luỵ với đầy dẫy khổ đau vì những tranh giành, ganh tỵ, đố kỵ, hận thù; thậm chí có nhiều người còn phải trốn chạy nó bằng cái chết của chính mình.
Ngược lại với những ai không tin có Thiên đàng trên trời nhưng đã từng được sống trong những môi trường tuyệt hảo ấy, và đã tận hưởng nó trong một trạng thái thân tâm an lạc, không tham-sân-si; nhờ vậy những người này sẽ có dịp hiểu được thế nào là sự “tuệ tri Thiên đàng là Thiên đàng”. Và nếu họ vẫn duy trì được thân tâm an lạc không có tham-sân-si, dù họ có phải “trở xuống” cõi đời trần tục này, họ vẫn thấy cuộc sống của mình an vui thanh thản. Với sự thanh thản ấy, họ sẽ nghiệm ra rằng: quả thật cuộc sống không tham, không sân, không si mới chính là thiên đàng thực sự ngay giữa thế gian này.
Riêng đối với những ai tin Thiên đàng có thật ở trên các tầng trời, họ càng phải thận trọng nhiều hơn, càng phải suy tư cân nhắc kỹ lưỡng hơn để thấy rõ con đường dẫn đến Thiên đàng. Nếu không, họ sẽ bị lạc vào những hành tinh chết, hoặc bị cuốn hút vào những “lỗ đen” mịt mù, hoặc bị rơi vào cạm bẫy của những “thiên đàng ảo” do kẻ khác vẽ ra để rồi gây hại cho mình và khổ những người chung quanh.
Một Thiên đàng thực sự phải là nơi lý tưởng theo mọi khía cạnh, chính vì thế nó càng cao siêu vi diệu bao nhiêu thì ở đó sự công bằng và quy luật nhân quả càng phải thể hiện cụ thể bấy nhiêu. Làm sao có một Thiên đàng hiện hữu với đầy dẫy tham – sân – si? Làm sao có thể có một Thiên đàng thực sự nếu ở đó chứa chấp cả những “hung thần” của loạn luân, trộm cướp, gian trá, giết người, diệt chủng?
Do vậy, một Thiên đàng thực sự chính là nơi chỉ có những hành nghiệp thiện mới đến được, và nó là kết quả tất nhiên của một thân biết làm thiện, miệng biết nói thiện, ý nghĩ biết nghĩ thiện. Cho nên, việc con người có thể được sanh lên Thiên đàng hay không là do chính nghiệp thiện của người ấy quy định chứ không do bất kỳ một ai khác.
Một người biết tin như vậy sẽ phải tích cực hướng thân-miệng-ý của mình theo chiều thiện lành để mong có được sanh thú an lạc đời sau. Ngay hiện tại họ được những người trí tán thán, và khi thân hoại mạng chung họ cũng được tái sanh vào cõi thiện lành. Mọi người đều biết tin như vậy, thực hành theo như vậy thì thế gian này đã là Thiên đàng hạ giới từ lâu rồi!
Tin Thiên đàng có thật thời cũng phải tin địa ngục có thật! Nếu không có Thiên đàng và địa ngục, thử hỏi một người suốt đời làm thiện và một kẻ suốt đời làm ác, cả hai cuối đời chết là hết chuyện, sạch trơn không phân biệt; thời còn ai muốn tích thiện, còn ai biết sợ ác? Thế giới này làm sao trở nên lương thiện được? Tri kiến phủ định như vậy có lợi ích gì cho con người? Công bằng và đạo lý thể hiện như thế nào đây? Phải chăng vì không tin có Thiên đàng nên đứng trước những việc thiện đáng làm con người lại quay lưng hờ hững? Phải chăng vì không biết sợ hãi địa ngục nên đứng trước cám dỗ hoặc hận thù con người dễ gây tội ác hơn? Rõ ràng, có Thiên đàng và có địa ngục mới giải đáp thoả đáng bài toán thiện - ác trong cái thế giới hữu hình này.
Mà nói đến hữu hình, nào ai dám quả quyết rằng bên trong những “lỗ đen” thâm u của vũ trụ kia chỉ toàn một khoảng hư không trống rỗng? Những “địa ngục đen” ấy hút được cả ánh sáng thì chúng cũng hút được cả những linh hồn tội lỗi, giam giữ và trừng phạt theo đúng với sự công bằng và quy luật nhân quả. Niềm tin như vậy có hợp lý không và có lợi ích không cho xã hội loài người?
Nhưng quan trọng hơn là phải thấy rõ con đường dẫn đến địa ngục và hiểu rõ bản chất của địa ngục mới tin địa ngục là có thật. Địa ngục là đối trọng hoàn toàn trái ngược với Thiên đàng, vì vậy con đường dẫn đến địa ngục chính là đạo lộ của một thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác. Địa ngục chính là các trạng thái khổ đau khốc liệt mà các chúng sanh phải chịu đựng để trả nợ các nghiệp ác do chính họ đã gây ra, chứ không phải do một ai bắt họ vào đó. Và cần gì phải xuống âm phủ mới thấy được những khổ đau khốc liệt, mọi người chỉ cần quán sát cõi Ta Ba này, cũng thấy được ngay thôi!
Nhìn vào luật pháp thế gian cũng biết: một kẻ diệt chủng bị bắt vào tù, bị bó hẹp trong cuộc sống bất như ý để chờ công lý phán xử, đó là “địa ngục trần gian” sơ khởi dành cho y. Thế nhưng, với luật nhân quả bấy nhiêu chưa đủ, kẻ ác nhân còn phải chịu khổ đau trong cõi “địa ngục sau trần gian” dưới hình thức nghiệp báo luân hồi nữa. Bởi lẽ, kẻ ác nhân phải gánh chịu tất cả những khổ đau của những người thân của nạn nhân khi họ mất đi người thân yêu của mình. Sự công bằng của luật nhân quả không bỏ sót bất cứ điều gì, và lưới trời tuy thưa nhưng thật khó thoát!
Nếu tất cả mọi người đều ý thức được điều trên và cố gắng làm thiện, nói thiện, nghĩ thiện để được tái sanh lên Thiên đàng, và đồng thời cũng tin rằng địa ngục là có thực và sợ hãi không dám tạo nên những nghiệp ác, thì thế gian này còn đâu chiến tranh chém giết, còn đâu phản bội lọc lừa, còn đâu hoang đàng trụy lạc?
Quả là lợi bất cập hại nếu như mọi người đều không tin có Thiên đàng và không sợ hãi địa ngục. Thế nhưng tin tưởng sai lầm vào những thiên đàng ảo và những địa ngục tưởng cũng nguy hiểm không kém. Do vậy không phải bất cứ thiên đàng nào, địa ngục nào cũng được những người trí chấp nhận. Một ông vua tự ý bắt tất cả những người thiện lành vào tù, và cho những kẻ loạn luân, diệt chủng vào cung của mình chỉ vì họ theo hay không theo mình, ông vua này có biết thực hành theo chánh đạo? Một Phạm thiên không biết đạo đức nhân quả nhân bản, cũng hành xử như thế, phải chăng là vị Phạm thiên do tưởng tạo thành?
Ngay trong thực tế cũng đã có nhiều người chỉ vì tin theo những thiên đàng ảo nên rủ nhau tự sát tập thể, còn các cô gái ngây thơ phải hiến mình cho những kẻ lừa bịp. Thậm chí có người còn sẵn sàng tiêu diệt cả những người lương thiện để mở rộng đường lên thiên đàng cho mình. Nếu mình không muốn kẻ khác nhân danh thiên đường của họ chém giết những người thân của mình, vậy tại sao lại nhân danh thiên đường của mình đi chém giết những người khác? Đã gọi là thiên đường thì nó phải tràn ngập yêu thương, công bằng và lý trí chứ?
Chính vì thế, hoàn toàn không tin có Thiên đàng và địa ngục là một cực đoan có hại, nhưng tin theo những Thiên đàng và địa ngục tà vạy lại là một cực đoan có hại thứ hai, nguy hiểm không kém. Rốt cuộc chỉ có Thiên đàng - địa ngục của quy luật nhân quả mới đáng để những người hiền trí tin theo và thực hành.
“- Vì rằng này Ananda, Ta đã tuyên bố một cách dứt khoát rằng, thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác là điều không nên làm. Nếu làm những điều không nên làm ấy, thời có những nguy hại như sau được chờ đợi: Tự mình chê trách mình; sau khi được biết, kẻ trí chê trách, tiếng ác đồn xa, bị mê ám khi mạng chung; sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Vì thế, này Ananda, Ta đã tuyên bố một cách dứt khoát rằng, thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác là điều không nên làm. Nếu làm những điều không nên làm ấy, thời có những nguy hại như vậy được chờ đợi.
... - Vì rằng này Ananda, Ta đã tuyên bố một cách dứt khoát rằng, thân làm thiện, miệng nói thiện, ý nghĩ thiện là điều nên làm. Nếu làm những điều nên làm ấy, thời có những lợi ích như sau được chờ đợi: Tự mình không chê trách mình; sau khi được biết, kẻ trí tán thán, tiếng lành đồn xa, không bị mê ám khi mạng chung; sau khi thân hoại mạng chung, được sanh vào cõi Thiện, cõi Trời, cõi đời này. Vì thế, này Ananda, Ta đã tuyên bố một cách dứt khoát rằng, thân làm thiện, miệng nói thiện, ý nghĩ thiện là điều nên làm. Nếu làm những điều nên làm ấy, thời có những lợi ích như vậy được chờ đợi” (TC1, C2, bài kinh Các sức mạnh = [I.2.2.8]).
Do vậy, nếu có ai hỏi tác giả bài này: “Có tin Thiên đàng không? Có tin địa ngục không?” Từ sự nhận thức khách quan và từ đáy lòng mình, người viết khẳng định rằng: “Tôi tin một cách chắc chắn có Thiên đàng, có địa ngục, và có cả quy luật nhân quả cho mỗi người tự lựa chọn.”
4.5 Những tế đàn cứu chuộc
Đến đây, người học Phật dù tưởng tri hay tuệ tri cũng cần phải thừa nhận rằng vấn đề TGSH là một tồn tại khách quan không nên tranh cãi. Tuy vậy, có thể còn có một tồn tại khác nữa nếu chưa hiểu rõ sẽ gây ra thắc mắc, đó là việc người cư sĩ cần phải ứng xử như thế nào cho đúng pháp đối với những người thân đã khuất?
Bài kinh “Bốn nghiệp công đức” có liên hệ đến vấn đề này. Trong bài kinh này Đức Phật đã dạy cho cư sĩ Cấp Cô Độc bốn hành động cụ thể đối với tài sản mình kiếm được. Người cư sĩ phải biết sử dụng tài sản để thụ hưởng đúng cách nhằm đem lại lợi ích cho mình và cho người. Người cư sĩ phải dùng tài sản ấy để tự mình được an lạc, để giúp đỡ cho cha mẹ, cho vợ con, cho người làm công, cho bạn bè, biết bảo vệ tài sản thích đáng, hộ độ cho những người tu hành; và bên cạnh đó có hành động liên quan đến TGSH. Cụ thể là:
“Với tài sản ấy, vị ấy tổ chức năm loại lễ hiến cúng, (1) hiến cúng cho bà con, (2) hiến cúng cho khách, (3) hiến cúng cho các vong linh quá khứ, (4) hiến cúng cho vua (hay cho đất nước, PNGP), (5) hiến cúng cho chư Thiên. Này Gia chủ, đây là trường hợp thứ ba vị ấy đi đến được, đạt được sự hưởng thọ đúng phương xứ” (TC1, C4, số 61 = [I.4.61])
“Lễ hiến cúng” ở đây được hiểu là các lễ đàn chẩn tế cứu giúp cho bà con và mọi người; lễ cúng giỗ cho cha mẹ, ông bà, tổ tiên để nhớ ơn những người đã khuất; lễ hiến cúng đóng góp tài sản cho quốc gia dân tộc; và lễ tưởng niệm các bậc tiền nhân có công với đất nước, với nhân loại.
Riêng lễ hiến cúng cho vong linh quá khứ đối với người thân, người học Phật cần thực hành cho đúng với chánh pháp để mang lại phước lành tốt nhất cho người quá cố lẫn người hiến cúng. Đương thời Phật, Bà-la-môn Janussoni đã hỏi Đức Thế Tôn về vấn đề này:
“- Thưa Tôn giả Gotama, chúng tôi Bà-la-môn, cho bố thí, làm các lễ cúng cho người chết. Mong rằng, bố thí này cho bà con huyết thống đã chết được lợi ích! Mong rằng các bà con huyết thống đã chết, thọ hưởng bố thí này! Thưa Tôn giả Gotama, bố thí có lợi ích gì cho các bà con huyết thống đã chết không? Các bà con huyết thống đã chết có được thọ hưởng bố thí ấy hay không?
- Này Bà-la-môn, nếu có tương ưng xứ, thời có lợi ích, không có lợi ích nếu không có tương ưng xứ.” (TC5, C10, bài kinh Jànussoni, số 177 = [I.10.177]).
Trong bài kinh này Đức Phật đã giải thích rất rõ thế nào là tương ưng xứ đem lại lợi ích và không tương ưng xứ không đem lại lợi ích, người học Phật cần đọc kỹ để thực hành cho đúng.
Ở đây chỉ nêu thêm vài chi tiết, thông thường theo suy nghĩ của Bà-la-môn Janussoni và của nhiều người khác, con cháu người quá cố chỉ cần bày mâm cao cỗ đầy, nhang đèn tươm tất rồi mời thầy cúng đến tụng kinh, thỉnh mời người đã khuất về thọ hưởng là được. Thật ra không có đơn giản như vậy, bởi lẽ những chúng sanh vô hình trong TGSH không có các căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân tương ứng như thế giới hữu hình, do vậy họ không thể thụ hưởng được những vật phẩm cúng dường bằng vật chất. Vì thế với mâm cao cỗ đầy thì chỉ có người còn sống hoặc các chúng sanh hữu hình thọ hưởng được mà thôi.
Còn chuyện đốt vàng mã lại càng vô lý. Hình thức này chẳng khác nào việc hối lộ các thần linh. Không có gì xúc phạm đến các bậc thần thánh thanh tịnh cho bằng việc này. Nếu ông thần nào dám nhận hối lộ của người trần để phù hộ cho họ, thì vị thần tối cao đã trừng trị ông thần tha hoá này trước nhất. Thần linh còn không dám nhận sự cúng dường phi pháp, người âm trong TGSH lại càng không dám.
Chính vì thế những người còn sống muốn người thân đã khuất hưởng được sự hiến cúng, họ phải biết biến sự hiến cúng trở thành những giá trị công đức siêu hình đúng pháp thì người quá cố mới thọ nhận được. Chỉ có những công đức siêu hình đúng pháp mới tương ưng xứ với TGSH và đem lại lợi ích cho người cúng lẫn người thọ nhận.
Cụ thể là người còn sống phải biết tổ chức các lễ đàn đúng pháp. Tế đàn đúng pháp phải hội đủ ba yêu cầu chính: thứ nhất vật phẩm tế đàn phải được tạo ra từ sự lương thiện, thứ hai không có sát sanh và thứ ba cần bố thí cúng dường cho những người có nhu cầu chính đáng. Ví dụ bố thí thức ăn cho những người thiếu đói; áo mặc, sách vở cho trẻ em nghèo, thuốc men cho người bệnh, bốn vật dụng cho tu sĩ... (Tham khảo hai Phẩm Bố thí, Chương 2 + Chương 8, Kinh Tăng Chi = [I.2B + I.8B], và [I.4.39/40])
Nhờ biết thực hiện các tế đàn đúng pháp như trên, nên người sống mới có thể biến những đồ hiến cúng vật chất thành các giá trị công đức siêu hình, nhờ vậy mới có thể hồi hướng các công đức này cho người đã khuất trong các cõi tương ứng và những vị này mới thọ nhận được.
Những tế đàn này được gọi là đúng pháp vì đem lại nhiều lợi ích cụ thể cho nhiều phía:
1. Người hiến cúng với những vật phẩm đúng pháp, không sát sanh và làm bố thí từ thiện giúp đỡ cho nhiều người, vì vậy người hiến cúng đã tạo được công đức thực sự cho chính bản thân mình, đồng thời những người trí phải tán thán họ.
2. Người hiến cúng đã nêu gương tốt cho mọi người và chính con cháu của người hiến cúng được dạy một bài học trực tiếp về đạo lý căn bản làm người: đạo lý nhân ái không giết hại chúng sanh, đạo lý biết nhớ ơn tiền nhân và đạo lý giúp đỡ cho mọi người.
3. Những người bệnh, người thiếu đói, trẻ em nghèo, người tu hành cũng nhận được những sự bố thí, cúng dường đúng pháp.
4. Người đã khuất ở nơi phương xứ thích ứng cũng có thể thọ hưởng được những công đức hiến cúng tương ưng xứ đúng pháp này. Và dù người hiến cúng có chia bao nhiêu phước chăng nữa, họ cũng không mất phước. Điều này giống như dù có bao nhiêu người mồi lửa nhưng ngọn đuốc chính vẫn không vì thế tắt lửa.
Thêm vào đó, còn có những tế đàn kết quả lớn hơn, lợi ích lớn hơn đã được Đức Thế Tôn chỉ dạy trong bài kinh Kùtadanta (số 5, TrB1 = [So43]). Những người học Phật cần biết rõ để thực hành cho đúng nhằm đem lại kết quả tốt nhất, lợi ích lớn nhất cho mình và cho người khác.
Chính vì vậy, một tế đàn hiến cúng đúng pháp càng lớn bao nhiêu, càng đầy đủ ý nghĩa bao nhiêu, càng có nhiều phước báu bấy nhiêu. Đây mới thực sự là những tế đàn cứu chuộc cho mọi người.
5. Kết luận ba, bốn, năm, sáu phải
Trên đây mới chỉ giới thiệu một số đặc điểm chính của TGSH trong kinh tạng Nikaya. Trong giới hạn một bài viết không thể nói hết được những giá trị thực tiễn cũng như những liệu pháp giúp diệt khổ của những bài học siêu hình này. Người học Phật cần tự mình tìm hiểu thêm trong kinh tạng Nikaya để từng bước đi tới giải thoát. Bên cạnh đó, để tránh những buộc ràng không đáng có, người học Phật cũng cần ghi nhớ rằng: vấn đề TGSH là một tồn tại khách quan, vì thế không nên mất thì giờ tranh luận chuyện có hay không có sự hiện hữu của chúng.
Do vậy, nếu có một người chấp chặt vào thế giới hữu hình thuần thuý, tìm đến người học Phật và cố chứng minh rằng chắc chắn không có TGSH. Để tránh tranh cãi người học Phật có thể nói: “Lành thay, không có TGSH!” Nếu người ấy chịu ngồi nghe, người học Phật có thể nói tiếp: “Không lành sao được khi không có những TGSH không tuân theo quy luật nhân quả, không giúp diệt trừ tham-sân-si, làm ác pháp tăng trưởng, thiện pháp suy giảm; gây hại cho mình, cho người, cho xã hội; và không có lợi cho mình, cho người, cho xã hội”.
Ngược lại, nếu có người thứ hai chấp chặt vào TGSH thuần tuý, tìm đến người học Phật và cố chứng minh rằng chắc chắn phải có TGSH. Để tránh tranh cãi người học Phật có thể nói: “Lành thay, có TGSH!” Nếu người ấy chịu ngồi nghe, người học Phật có thể nói tiếp: “Không lành sao được khi có những TGSH tuân theo quy luật nhân quả, giúp diệt trừ tham-sân-si, làm thiện pháp tăng trưởng, ác pháp suy giảm, không gây hại cho mình, cho người, cho xã hội; và có lợi cho mình, cho người, cho xã hội”.
Nếu có người thứ ba thấy vậy, la lên: “Người Phật tử là ba phải!” Người học Phật chỉ cần đính chính thêm: “Lành thay, chúng tôi không chỉ có ba phải, mà còn bốn phải, năm phải, sáu phải nữa. Chúng là phải chứ có trái đâu mà không theo!”.
Nói xong, nhớ chắp tay nguyện cầu cho thế giới thái bình, cho mọi người an lạc.
_______________
(1) Lý do phải sanh vào lâu đài trống không có thể tìm thấy trong bài kinh Tệ Túc, số 23, Trường Bộ 2:
“Tôn chủ Pàyàsi vì đã bố thí không được cho hoàn bị, vì đã bố thí không tự tay mình làm, vì đã bố thí không có suy tư, vì đã bố thí các đồ vật phế thải, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh nhập chúng với Bốn Ðại Thiên vương, trong cung điện trống không của Serisaka. Còn thanh niên Uttàra bị bỏ qua trong cuộc bố thí này, vì đã bố thí một cách hoàn bị, vì đã bố thí tự tay mình làm, vì đã bố thí có suy tư, vì đã bố thí các đồ không phế thải, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, Thiên giới nhập chúng với chư Thiên ở Tam thập tam thiên.” [Vd.31]
Và lý do khác trong kinh Phạm Võng, số 1, Trường Bộ 1 = [So.39.37]:
“Này các Tỷ-kheo, có một thời đến một giai đoạn nào đó, sau một thời hạn rất lâu, thế giới này chuyển thành. Trong khi thế giới này chuyển thành, Phạm cung được hiện ra, nhưng trống không. Lúc bấy giờ, một hữu tình, hoặc thọ mạng đã tận, hay phước báo đã tận, mạng chung từ Quang Âm thiên, sanh qua Phạm cung trống rỗng ấy. Vị ấy ở tại đấy, do ý sanh, nuôi sống bằng hỷ, tự chiếu hào quang, phi hành trên hư không, sống trong sự quang vinh, và sống như vậy trong một thời gian khá dài.” (Ghi chú: Phạm cung lúc này trống không vì các chúng sanh chưa tạo lập công đức mới)
(2) Các nhà giáo dục Phật giáo cần lưu ý: những truyện tranh minh hoạ ma quỷ trong TGSH của Phật giáo chỉ cần vẽ tượng trưng, không nên vẽ quá rùng rợn khiến trẻ em sợ hãi không dám đọc. Đã có một tập phim hoạt hình “Tom and Jerry” có cảnh địa ngục đúng theo luật nhân quả nhưng hợp với trẻ em, đây là điều đáng ghi nhận.